Pháp Luật

3 điều mới cần lưu ý trong Nghị định 22 về đánh giá học sinh tiểu học

Theo Thông tư 22/2016 / TT-BGDĐT, hồ sơ đánh giá bao gồm “học bạ” và “bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục của lớp”. Vì vậy, “Sổ theo dõi chất lượng giáo dục” trước đây được thay thế bằng “Tổng hợp kết quả đánh giá chất lượng giáo dục”. Đồng thời, chúng ta không quy định chặt chẽ tất cả các loại vở được sử dụng trong quá trình đánh giá học sinh. Mời các bạn tham khảo 3 điểm mới của Thông tư 22 cần lưu ý khi đánh giá học sinh tiểu học.

  • Có gì mới trong Thông tư 22 về Đánh giá Học sinh Tiểu học
  • So sánh sự khác biệt giữa Quy tắc Thực thi 30 và Quy tắc Thực thi 22 liên quan đến việc đánh giá trường tiểu học

I. Mục đích của đánh giá học sinh tiểu học là gì?

Mục đích của việc đánh giá học sinh tiểu học là Quy tắc Thực thi Số Được quy định tại Điều 3 của văn bản hợp nhất 03 / VBHN-BGDĐT về đánh giá học sinh tiểu học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, hợp nhất ngày 30/2014 / TT-. BGDĐT (có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 10 năm 2014) và các văn bản sửa đổi, bổ sung tham khảo Thông tư số. 22/2016 / TT-BGDĐT (có hiệu lực ngày 06 tháng 11 năm 2016).

1. Giúp giáo viên dung hoà, đổi mới cách thức, hình thức tổ chức các hoạt động dạy và học trong và cuối mỗi đợt dạy học, tiết dạy. Để động viên và khuyến khích, nó ngay lập tức cảm nhận được sự nỗ lực và tiến bộ của học sinh, phát hiện những khó khăn mà các em không thể tự mình vượt qua, hướng dẫn và hỗ trợ. Đánh giá chính xác những ưu điểm, hạn chế nổi bật của từng học sinh để có giải pháp kịp thời nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập và rèn luyện của học sinh. Góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học.

2. Giúp học sinh tự nhận xét và tham gia nhận xét. phong cách học tập tự giác, tự điều chỉnh; giao tiếp và hợp tác; Bạn ham học hỏi và rèn luyện để tiến bộ.

3. Hỗ trợ phụ huynh hoặc người giám hộ của học sinh (sau đây gọi là phụ huynh của học sinh) tham gia vào việc học tập, đào tạo và đánh giá quá trình và kết quả nhằm hình thành và phát triển năng lực và phẩm chất của chính học sinh. Tích cực hợp tác với nhà trường trong các hoạt động giáo dục học sinh.

4. Hỗ trợ cán bộ quản lý đào tạo các cấp chỉ đạo nhanh chóng hoạt động đào tạo và đổi mới phương pháp đào tạo, phương pháp đánh giá nhằm đạt hiệu quả đào tạo.

Dự luật sửa đổi Nghị định số 22 về đánh giá học sinh tiểu học, thay thế Nghị định số 30, vẫn đang có hiệu lực. Để biết thêm thông tin về Thông tư 22, xem tại Thông tư 22/2016 / TT-BGDĐT.

II. Các biện pháp phòng ngừa mới đối với việc đánh giá trường tiểu học trong Nghị định thi hành 22

1. Về yêu cầu, nguyên tắc và phương pháp đánh giá

Yêu cầu, nguyên tắc đánh giá và tinh thần chung Thông tư 22 vẫn giữ nguyên ý nghĩa cốt lõi và cơ bản của tinh thần Thông tư 30: “Đánh giá định kỳ bằng nhận xét, đánh giá định kỳ bằng điểm kết hợp với nhận xét”. “Đánh giá tích hợp của Giáo viên, Học sinh và Phụ huynh”; Tiếp tục khẳng định rằng “đánh giá của giáo viên là điều tối quan trọng”. Bãi bỏ các điều 3, 5, 7, 8, 9 và 11. Mặc dù ‘đánh giá’ tại Điều 3, Khoản 2 đã được sửa đổi thành ‘nhận xét’, nhưng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều đề xuất nhằm giảm bớt gánh nặng và khối lượng công việc của giáo viên nhằm bù đắp một số thiếu sót. Một phương pháp đánh giá thực tế, cụ thể:

– Để đánh giá thường xuyên

  • Đưa ra nhận xét không cho điểm đồng thời duy trì quy chế đánh giá kết quả học tập, rèn luyện về kiến ​​thức, kỹ năng, thái độ và một số biểu hiện năng lực, phẩm chất của học sinh, nhưng không yêu cầu giáo viên phải ghi hàng tháng vào sổ theo dõi chất lượng giáo dục. Giáo viên chủ động khi nhận xét miệng chỉ ra cho học sinh điều đúng sai và cách sửa chữa. Khi viết lời nhận xét về vở học sinh hoặc sản phẩm làm việc; Các hành động cụ thể được thực hiện để cung cấp sự trợ giúp kịp thời và thích hợp và dựa trên sự thể hiện nhận thức, kỹ năng và thái độ của học sinh đối với từng khả năng và phẩm chất.
  • Học sinh học tập tốt hơn và tham gia nhận xét các nhóm bạn trong quá trình tự nhận xét, đánh giá sản phẩm, bài tập học tập. Tham gia nhận xét bạn và nhóm bạn về biểu hiện của từng năng lực, phẩm chất để hoàn thiện bản thân (bỏ cụm từ “Học sinh tự đánh giá”). Đồng thời, khuyến khích cha mẹ học sinh trao đổi ý kiến, đánh giá với giáo viên theo hình thức phù hợp, cùng với giáo viên động viên, hỗ trợ học sinh trong học tập, rèn luyện để các em phát triển năng lực, phẩm chất.

– Để đánh giá thường xuyên

  • Đánh giá định kỳ kết quả học tập: Thay vì có hai mức đánh giá là “Hoàn thành” và “Không hoàn thành” như Thông tư 30, Thông tư 22 quy định có ba mức đánh giá là “Hoàn thành tốt”, “Hoàn thành” và “Không hoàn thành”. Cuối học kỳ I và cuối năm học học các môn Tiếng Việt, Toán, Khoa học, Lịch sử và Địa lý, Ngoại ngữ, Tin học; Đặc biệt, đối với học sinh lớp 4 và lớp 5, đề kiểm tra Tiếng Việt và Toán được thực hiện định kỳ giữa học kì I và học kì II nhằm giúp các em làm quen với phương pháp kiểm tra, đánh giá của các lớp sau. Đối với các kỳ thi thông thường, không có 3 giai đoạn như trong Quy tắc thực thi 30 mà Quy tắc thực thi 22 quy định 4 giai đoạn về kiến ​​thức, kỹ năng và hướng phát triển năng lực. Bằng cách cung cấp nhiều cấp độ đánh giá như trên, cho phép giáo viên thấy rõ hơn sự khác biệt trong thành tích của học sinh, phụ huynh có thể hiểu rõ hơn về mức độ thành tích của con mình. Những đánh giá này được thực hiện giữa học kỳ bởi giáo viên vào cuối mỗi học kỳ để cung cấp phản hồi đầy thách thức về học tập, sự tiến bộ và lĩnh vực học tập của học sinh. Đồng thời, giúp giáo viên và học sinh phối hợp các hoạt động dạy và học với nhau, giúp học sinh nhận thức được mình còn thiếu những gì so với chuẩn kiến ​​thức, kĩ năng hoặc yêu cầu, mục tiêu dạy học.
  • Định kỳ đánh giá năng lực và phẩm chất: Thông tư 22 quy định, giữa học kỳ 1, cuối học kỳ 1, giữa học kỳ 2 và cuối năm học, giáo viên chủ nhiệm căn cứ vào các biểu hiện liên quan đến nhận thức, kỹ năng, thái độ trong nhà trường. . Quá trình đánh giá Đánh giá thường xuyên việc hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của mỗi học sinh, được định lượng ở ba mức: “Tốt”, “Đạt”, “Phải cố gắng” (chỉ có hai mức theo Thông tư 30) và “Đạt” và “ thất bại”). Việc định lượng này giúp giáo viên, cán bộ quản lý và cha mẹ học sinh nhận thức và xác định rõ ràng hơn mức độ hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh sau một thời gian học tập. Việc đánh giá này cũng giúp giáo viên và học sinh nhận ra mình còn thiếu những gì so với chuẩn kiến ​​thức, kỹ năng hoặc yêu cầu dạy học để có thể điều chỉnh hoạt động và phương pháp tiếp cận kiến ​​thức. Trên cơ sở những đánh giá đó, giáo viên và nhà trường có cơ sở để đưa ra những giải pháp kịp thời nhằm khắc phục những hạn chế, phát huy tính tích cực để học sinh ngày càng phát triển tốt hơn.

2. Về hồ sơ đánh giá và tóm tắt kết quả đánh giá

  • Quy tắc thực thi 22 quy định rằng “phiếu điểm học tập” và “bảng tổng hợp kết quả đánh giá của lớp” được đưa vào hồ sơ đánh giá. Vì vậy, “Sổ theo dõi chất lượng giáo dục” trước đây được thay thế bằng “Tổng hợp kết quả đánh giá chất lượng giáo dục”. Đồng thời, chúng ta không quy định chặt chẽ tất cả các loại vở được sử dụng trong quá trình đánh giá học sinh. Giáo viên cho bạn quyền tự chủ theo dõi sự tiến bộ của học sinh, ghi chú với học sinh những nội dung chưa hoàn thiện, hoặc tự tạo Excel để tự mình nắm bắt thông tin và sử dụng khi cần thiết. . Sự thay đổi này giúp giáo viên dễ dàng đánh giá học sinh hơn, cho phép họ dành nhiều thời gian hơn để hỗ trợ học sinh trong quá trình giảng dạy và giảm gánh nặng về sách vở. Nó sử dụng rất nhiều bình luận thừa, trang trọng và không cần thiết.
  • Giữa và cuối học kỳ, giáo viên ghi kết quả đánh giá giáo dục của học sinh vào bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục của lớp. Bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục của các lớp được cung cấp tại trường theo đúng quy định. Cuối năm học, giáo viên chủ nhiệm ghi nhận xét đánh giá học tập của học sinh vào học bạ. Học bạ được nhà trường lưu giữ trong thời gian học sinh đi học và được giao cho học sinh khi tốt nghiệp tiểu học hoặc theo học tại trường khác.

3. Về bồi thường

  • Giấy khen cuối năm số 22 công nhận những học sinh và lớp đạt thành tích xuất sắc hoặc tiến bộ đáng kể trong ít nhất một môn học, hoặc ít nhất một năng lực hoặc phẩm chất, được học sinh và giáo viên giới thiệu để hoàn thành tốt việc học tập và rèn luyện. Nhà trường cũng có thể khen thưởng đột xuất cho những học sinh có thành tích xuất sắc trong các đợt thi đua hoặc đạt thành tích đột xuất trong năm học. Quy định này giúp giáo viên và nhà trường dễ dàng hơn trong việc khen thưởng học sinh mà vẫn đảm bảo yêu cầu, không gây áp lực cho học sinh và phụ huynh. Đồng thời hạn chế bệnh thành tích trong giáo dục.
  • Bằng cách khuyến khích, kế thừa và thể hiện tinh thần nhân văn của Thông tư 30, chúng tôi hy vọng rằng Thông tư 22 sẽ mang lại diện mạo mới cho giáo dục tiểu học và đặc biệt là khắc phục một số tồn tại, hạn chế. giai đoạn hiện tại. Sắp tới, sau khi có ý kiến ​​chỉ đạo của Bộ GD & ĐT, ngành sẽ tiến hành tập huấn, hướng dẫn, tuyên truyền sâu rộng để làm rõ những vấn đề còn băn khoăn, vướng mắc của CB, GV. Hiệu quả, kịp thời trong các trường tiểu học ngay sau khi pháp lệnh cưỡng chế có hiệu lực. /.

Xem các bài viết khác trong phần Quản trị của phần Câu hỏi thường gặp về pháp lý.

.

Back to top button