Top List

Top 6 Bài văn so sánh thiên nhiên hiện lên trong “Tây Tiến” và “Việt Bắc” (lớp 12) hay nhất

Văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975 là nền văn học tồn tại và phát triển trong 30 năm chiến tranh. Đó là 30 năm của máu, của nước mắt, của những vết tích khốc liệt mà bom đạn dày xéo, của niềm tin và hi vọng vào một tương lại chiến thắng, của bừng bừng lửa hận và ngút ngàn thương đau. Hiện thực đó đã chắp cánh cho những tác phẩm văn học mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Cùng tìm đến “Việt Bắc” của Tố Hữu và “Tây Tiến” của Quang Dũng, ta sẽ thấy được tinh thần lạc quan của những người lính được xây dựng trên sự kết hợp nhuần nhuyễn của khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Điểm chung của 2 tác phẩm là thiên nhiên đất nước hiện lên thật đẹp và thơ mộng. Mời các bạn tham khảo một số bài văn phân tích, so sánh thiên nhiên trong Tây Tiến và Việt Bắc mà Vozz đã tổng hợp trong bài viết dưới đây.

Bài văn so sánh thiên nhiên hiện lên trong Tây Tiến và Việt Bắc số 1

Trong rất nhiều bài thơ viết về mảnh đất phía Bắc của Tổ quốc có hai tác phẩm nổi bật hơn cả đó là Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng và Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu. Đây đều là những tác phẩm viết về cách mạng, về người lính nhưng thông qua đó, người đọc lại được thưởng thức và cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên vùng núi phía Bắc thật sinh động và rõ nét.

Thiên nhiên trong Tây Tiến là ở các tỉnh Thanh Hóa, Lào Cai và vùng đất của nước bạn Lào. Cả chặng đường hành quân của đoàn quân Tây Tiến dù vô cùng gian nan vất vả hiểm nguy nhưng cũng vô cùng tươi đẹp, lãng mạn. Dù phải đối mặt với cái chết và những căn bệnh quái ác, sự đói khát, thiếu thốn, gian khổ nhưng những người lính Tây Tiến vẫn luôn yêu đời, vẫn ngắm nhìn và cảm nhận thiên nhiên qua vẻ đẹp thuần túy của nó. Hàng loạt các địa danh của vùng núi phía Bắc được tác giả nhớ đến và gọi tên: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu, Viên Chăn…

Mỗi địa danh, tác giả lại nhớ và nhắc đến với những vẻ đẹp gắn liền với nó. Đó là những trườn dốc cheo leo, khúc khuỷu, là những cồn mây thăm thẳm những cơn mưa mù mịt đất trời. Thiên nhiên ở Tây Tiến hiện lên với nét đẹp hoang sơ, nguyên thủy như chưa có bước chân của con người. Cách miêu tả nhẹ nhàng hài hước ấy vừa tô vẽ lên vẻ đẹp phong thủy, hùng vĩ của đất trời nhưng đồng thời cũng không làm giảm đi giá trị của sự thực đó là sự khắc nghiệt và hiểm nguy của thiên nhiên, con đường họ hành quân. Người đọc cảm nhận như đang mường tượng ra những địa danh mờ mịt mà tác giả nhắc đến, nó hùng tráng, huy hoàng nhưng độc và đầy gian nan. Từ đây người đọc có thể thấy được sự dũng cảm của những người lính đồng thời cũng hiểu được lí do họ gắn bó và tha thiết nhớ mãi không quên vùng đất này.

Thiên nhiên trong Việt Bắc chính là thiên nhiên ở chiến khu Việt Bắc, căn cứ địa cách mạng, nơi đóng quân của bộ máy đầu não trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Ở đấy, thiên nhiên Việt Bắc có thể nói là được miêu tả sinh động, tươi đẹp nhất trong khổ thơ:

“Ta về, mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hoà bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”.

Đây có thể coi là bức tranh tứ bình về cảnh đẹp Việt Bắc xuất sắc nhất bài thơ. Đó là mùa hè với những cảnh vật đặc trưng như cánh rừng xanh thẳm, hoa chuối nở đỏ rừng, là ánh nắng chói chang trên những ngọn đồi và nương rẫy. Mùa xuân thì đến với những hình ảnh hoa mơ trắng rừng lãng mạn, thơ mộng huyền ảo vô cùng. Mùa thu lại là màu của lá vàng, của ánh trăng dìu dịu nhẹ nhàng phủ lên đất trời. Mỗi một mùa của núi rừng Việt Bắc lại gắn với những cảnh vật và màu sắc đặc trưng khiến cho cả đoạn thơ trở thành một bức tranh màu sắc, sống động, rực rỡ và đầy sức sống. Chính nơi đây đã nuôi sống cán bộ, nuôi sống những chiến sỹ Việt Bắc, trở thành quê hương thứ hai của họ. Khiến họ khi về xuôi vẫn luôn thổn thức “Mình về mình có nhớ ta, ta về ta nhớ…”.

Thông qua hai bài thơ, người đọc có thể thấy được cảnh vật ở miền Bắc nước ta tươi đẹp quá, mỗi vùng đất lại có những nét đẹp riêng, được miêu tả bằng cách nhìn riêng nhưng nổi bật hơn cả là sự tự nhiên, hoang dã đầy sức sống. Những bức tranh ấy như lời kêu gọi con người hôm nay càng phải biết trân trọng, yêu quý hơn nữa từng mảnh ghép quý giá của thiên nhiên đất trời. Biết ơn những người chiến sỹ đã ngã xuống cho chúng ta hòa bình ngày hôm nay.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn so sánh thiên nhiên hiện lên trong Tây Tiến và Việt Bắc số 2

Trong chặng đường hành quân gian khổ, thiên nhiên có thể vừa là bạn vừa là đối thủ thử thách ý chí nghị lực của người lính. Cùng hoạt động trên địa bàn rừng núi Tây Bắc trong cuộc kháng chiến chống Pháp, cuộc sống sinh hoạt và chiến đấu gắn bó mật thiết với thiên nhiên núi rừng nơi đây, nhưng mỗi người lính lại mang cảm hứng khác nhau tạo nên nét đẹp rất riêng, rất độc đáo trong Tây Tiến của Quang Dũng và Việt Bắc của Tố Hữu.

Quang Dũng (1921-1988) là nghệ sĩ đa tài, có hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa, đặc biệt khi ông viết về những người lính Tây Tiến và xứ Đoài quê mình. Tây Tiến là bài thơ xuất sắc nhất, tiêu biểu cho đời thơ, phong cách sáng tác của ông. Bài thơ bằng bút pháp lãng mạn, sự sáng tạo về hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu đã bộc lộ một nỗi nhớ sâu sắc da diết của tác giả về những người lính Tây Tiến anh dũng hào hoa và núi rừng miền Tây hùng vĩ, Mỹ lệ.Đường thơ, đường cách mạng của Tố Hữu gắn liền với các chặng đường của cách mạng Việt Nam. Bài thơ Việt Bắc được Tố Hữu sáng tác trong bối cảnh chia tay với Việt Bắc đầy lưu luyến. Cảnh và người Việt Bắc đã để lại nỗi nhớ không thể nào quên trong tâm hồn người cán bộ về xuôi. Không nỗi nhớ nào về thiên nhiên Việt Bắc lại thiếu hình ảnh về người Việt Bắc và không một nỗi nhớ nào về con người Việt Bắc lại thêm nỗi nhớ về vẻ đẹp của núi rừng Việt Bắc. Bởi lẽ đơn giản con người Việt Bắc gắn bó với thiên nhiên, đến lượt mình người chiến sĩ cách mạng sống chan hòa với người Việt Bắc được che chở giữa đại ngàn núi rừng.

Tám câu thơ đầu trong bài thơ Tây Tiến đã thể hiện nỗi nhớ da diết của Quang Dũng qua việc miêu tả rừng núi miền Tây, nhắc nhở những kỷ niệm về các chặng đường hành quân gian khổ mà kiên cường, anh dũng:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi !….

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Đối tượng đầu tiên trong nỗi nhớ của Quang Dũng là nhớ về rừng núi: Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi. Có lẽ bởi trong suốt cuộc hành quân cùng binh đoàn Tây Tiến, rừng núi chính là khung cảnh đặc trưng nhất, quen thuộc nhất đối với Quang Dũng và đồng đội. Rừng núi in đậm bao niềm vui nỗi buồn của người lính. Hơn ai hết, tác giả chính là người thấm thía nhất những khó khăn mình đã từng trải qua, cái nhìn về Tây Bắc là cái nhìn của một người trong cuộc đã từng tự mình thể nghiệm các cảm giác trèo đèo lội suối:

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mùa xa khơi.

Quang Dũng không miêu tả thẳng những khó khăn gian khổ của người lính mà chỉ miêu tả cái hoang vu khắc nghiệt của một vùng rừng núi hoang dã; song đọc đoạn thơ ai cũng hiểu, cũng có thể tưởng tượng ra cuộc sống chiến đấu của người lính Tây Tiến. Những địa danh Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông xa lạ càng làm cho núi rừng trở nên xa ngái, hoang vu, mà ở đó, kỷ niệm ùa về đầu tiên trong nhà thơ chính là những cuộc hành quân:Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏiCâu thơ chùng xuống, đều đều, gợi lên sự mỏi mệt, bải hoải, nặng nề, khiến ta tưởng chừng như đoàn binh Tây Tiến sắp ngã xuống, sắp bị lấp chìm đi trong sương núi. Quang Dũng không đơn thuần đứng ngắm từ xa hay tưởng tượng để tả mà tác giả chuyển tải cảm nhận từng trải về thế giới núi rừng đó qua cách tạo hình, phối thanh điệu là sự kết hợp giữa thi ca, hội họa và âm nhạc:

Dốc lên khúc khủy dốc thăm thẳm

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống c

ũng giống câu thơ: Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm có nhịp ngắt 4/3 với điệp từ và hai vế đối đã bẻ gập câu thơ, vẽ nên trong không gian những đường gấp khúc của rừng núi Tây Bắc: lên cao ngút trời, sâu xuống vô cùng, hun hút không thấy đáy.Hình ảnh khúc khuỷu hiện lên làm ta cảm giác con đường đi khó khăn, vất vả biết mấy. Dốc thăm thẳm lại làm cho những khó khăn ấy dài thêm ra, sâu hút xuống, và cũng như tôn vị trí người lính đang đứng lên cao vòi vọi, sau khi đã vượt lên những con đường ngoằn ngoèo, uốn khúc. Đọc câu thơ lên ta cảm nhận rất rõ những bước chân nặng nề gắng gượng, những hơi thở nặng nhọc của người lính khi vượt qua hết con dốc này đến con dốc khác, dốc chồng lên dốc, hết dốc lên cao lại dốc lao xuống vô cùng vô tận. Thiên nhiên, địa hình khắc nghiệt của Tây Bắc hiện lên rõ nét, sinh động qua nét bút bạo, khỏe, gân guốc, ngôn ngữ có tính chạm khắc với một loạt những từ láy khúc khuỷu, thăm thẳm.

Song, dù thiên nhiên có khắc nghiệt đến đâu, chặng đường có gian khổ cách mấy thì trong con mắt lãng mạn của người lính vẫn ẩn chứa những nét thơ mộng trữ tình. Giữa không gian rừng núi hiểm trở với những thanh trắc xen lẫn nhưng câu thơ với âm điệu âm điệu bỗng trở nên nhẹ nhàng, bồng bềnh bởi một câu thơ nhiều thanh bằng:

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Đó là hương hoa đêm của núi rừng đưa hương ngào ngạt, hay là hình ảnh những ngọn đuốc hoa trên tay người lính cầm trong cuộc hành quân giữa đêm dài? Có lẽ hiểu theo nghĩa nào cũng đúng, hình ảnh nào cũng rất hay, rất đẹp, rất lãng mạn hiện lên trong một không gian mờ ảo, phiêu bồng đêm hơi. Câu thơ đã xóa tan đi sự mỏi mệt của đoàn quân Tây Tiến để đoàn quân bước tiếp, tiếp tục vượt qua những chặng đường gian khổ:

Heo hút cồn mây súng ngút trời

Giữa cái xa xôi, hiu hắt, vòi vọi của độ cao, nơi nguy hiểm chồng chất dựng lên thành dốc, thành cồn, người lính đứng đó, mái đầu và đầu súng như chạm vào mây trời, ngang tàng, hiên ngang và khí phách. Hình ảnh thơ tếu táo súng ngửi trời đã nhấn đậm thêm vào vẻ đẹp ấy của người lính. Ta thấy con người và cây súng đã làm chủ được thiên nhiên, làm chế ngự được những khắc nghiệt, thử thách gian lao của một vùng sơn cước u minh. Quang Dũng đã sử dụng một hình ảnh hết sức sáng tạo, và vô cùng đắc địa. Chỉ một từ ngửi đã nói lên được cái ngông, cái ngang tàng của người lính trẻ. Đó không phải là chạm trời, hay chọc trời mà cây súng ở đây lại ngửi trời. Bao nhiêu gian lao khi vượt dốc, băng đường, trở thành một việc vô cùng đơn giản, dễ dàng, cỏn con, chỉ để người lính ngửi xem trời như thế nào mà thôi.Ấy vậy mà khi vượt qua những chặng đường hành quân như vậy, dường như người lính lại chẳng hề mệt mỏi, bởi dường như bao nặng nhọc đã vơi đi hết bởi một câu thơ toàn thanh bằng độc đáo:

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Đó chính là cái tài ở thơ Quang Dũng. Câu thơ đã gợi lên cái phiêu diêu, chơi vơi, bay bổng nhẹ tênh của không gian rộng mở. Những mỏi mệt đã lùi hết về phía sau, vương lại nơi những khấp khểnh đường đi mà người lính đã vượt qua. Người lính bây giờ chỉ thấy khung cảnh trước mắt trải ra ngút ngàn: những ngôi nhà xa xôi, chìm khuất ẩn hiện trong màn mưa, gợi lên sự bâng khuâng và thoáng thầm lặng trong nỗi nhớ quê nhà.Tám câu thơ mở đầu Tây Tiến đã gợi ra toàn cảnh những vất vả, gian lao, của chặng đường hành quân giữa thiên nhiên khắc nghiệt, rợn ngợp. Đó có lẽ là những ấn tượng sâu sắc và đậm nét nhất trong những kỷ niệm về Tây Tiến của nhà thơ. Xuyên suốt đoạn thơ, ta cảm nhận được nỗi nhớ khi dâng lên ào ạt, mãnh liệt, khi lại như tràn ra mênh mang sâu lắng qua từng câu thơ, vần bằng xen giữa những câu thơ vần trắc, âm hưởng thơ trùng điệp, khi lên bổng lúc xuống trầm, lãng mạn và cũng hào hùng khôn tả.Đường Tây Tiến không chỉ hùng vĩ, đầy thử thách ác liệt mà còn có những cảnh núi sông thơ mộng:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa .

Ngòi bút của Quang Dũng không tả mà chỉ gợi. Những hình ảnh chiều sương ấy, hồn lau, nẻo bến bờ, hoa đong đưa kết hợp với cách hỏi có thấy, có nhớ mở ra một khung cảnh buổi chiều sương trong kí ức. Sương mờ giăng mắc khắp không gian, bến bờ lặng lẽ hoang dại, trên sông xuất hiện một dáng người mềm mại, uyển chuyển của cô gái Thái trên chiếc thuyền độc mộc, những bông hoa rừng đong đưa làm duyên trong dòng nước. Cảnh như có hồn, có sự thiêng liêng của núi rừng, đậm màu sắc cổ tích và huyền thoại. Qua những nét vẽ hư ảo trên, ta như thấy trước mắt mình một bức tranh sơn thuỷ hữu tình mang dấu ấn của một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, lãng mạn, tài hoa, vô cùng yêu mến, gắn bó với mảnh đất miền tây – tâm hồn Quang Dũng. Đồng thời ta cũng cảm nhận được tâm hồn rung động của các chiến sĩ Tây Tiến trước cái đẹp.

Với Tố Hữu rừng núi Tây Bắc là nơi chôn bao lớp xác quân thù và cũng là người bạn đồng hành, chở che cho những anh lính trên đoạn đường hành quân đầy gian khổ:

Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

Núi giăng thành lũy sắt dày

Rừng che bộ đội rừng vây quân thù

(Việt Bắc – Tố Hữu)

Trong những ngày đầu kháng chiến gian khổ của giai đoạn cầm cự, phòng ngự, bộ đội phải dựa vào dân, dựa vào núi rừng Việt Bắc hiểm trở để đánh địch. Trước giờ khắc quyết định của lịch sử, không chỉ nhân dân mà cả núi rừng cùng đều vùng lên, chung sức đánh Tây. Với cuộc kháng chiến đầy gian lao của quân và dân Việt Bắc, núi rừng cũng trở nên có chí, có tình người, đã trở thành những người bạn, những người đồng đội, những chiến sĩ anh hùng của toàn quân.Chỉ với bốn câu thơ, chữ rừng và núi được lặp đi lặp lại đến năm lần, nó rải kín câu thơ, rải kín đất Việt Bắc tạo lên thế hiểm của trường thành của lũy thép vây bọc quân thù. Nhớ về lúc kháng chiến, khi giặc đánh giặc lùng, cũng là khi quân ta đang khó khăn xoay sở tình thế, ta biết địch mạnh hơn ta rất nhiều, nhưng trên trận địa quen thuộc nói là thua địch cũng không phải là dễ. Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây, bằng phép nhân hóa, rừng bạt ngàn cây, với núi bao la đá để rồi trên dưới một lòng cùng con người đánh đuổi quân xâm lược.

Đồng thời thể hiện tình cảm giữa con người kháng chiến và thiên nhiên núi rừng Việt Bắc rất tha thiết, bao la.Ở cặp lục bát thứ hai ta sẽ thấy rõ hơn công việc của thiên nhiên núi rừng Việt Bắc. Núi thì giăng thành lũy, rừng thì đảm nhận hai công việc. Như một người mẹ che chở cho con mình, rừng bao bọc cho bộ đội trước mặt kẻ thù cướp nước. Rừng trở nên kiên quyết đến dữ dằn cùng với việc vây quân thù để tiêu diệt, cái trùng trùng điệp điệp của rừng, cái khí thế hiên nagng kiêu hùng của những vách núi đã làm cho biết bao kẻ thù khiếp sợ và bất lực. Quả thật Việt Bắc đã trở thành địa linh nhân kiệt kể từ đó. Qua đó càng làm sáng tỏ thêm nhận định: Việt Bắc là cái nôi của cách mạng dân tộc ta. Trong Việt Bắc có những đoạn thơ như một khúc ca êm ái, ngọt ngào, chứa chan tình cảm với lời thơ mở đầu:

Nhớ gì như nhớ người yêu

Nỗi nhớ người yêu là nỗi nhớ mà chỉ có những người từng trải qua cảm giác yêu rồi mới có thể hiểu rõ được. Tố Hữu đã từng tâm sự với Moselle Gansel – một nhà nghiên cứu văn học người Pháp, rằng ông đã phải lòng đất nước mình, vậy cho nên ông nhớ đất nước mình, yêu đất nước mình như nhớ, như yêu hai người đàn bà trong trái tim ông. Chính vì thế mà Tố Hữu mới có thể viết ra một câu thơ lãng mạn đến vậy để miêu tả nỗi nhớ về Việt Bắc Nhớ gì như nhớ người yêu. Đó là nét riêng trong sáng tạo, một hình ảnh thơ mà chỉ có Tố Hữu mới hiểu rõ và viết ra đầy tình cảm khiến ta liên tưởng đến câu ca dao:

Nhớ ai bổi hổi bồi hồi”

Như đứng đống lửa như ngồi đống than

Đó là nỗi nhớ về những khung cảnh thơ mộng đầy thi vị của vùng Tây Bắc: Trăng lên đầu núi, trăng chiều lưng nương. Hai vế câu thơ là chỉ thời gian đôi lứa hò hẹn nhau. Người Việt Bắc cần mẫn, lam lũ, nên thời gian nghỉ ngơi trong ngày là rất ít, những chàng trai cô gái chỉ có thể gặp gỡ nhau khi trăng đã lên ngang tầm đỉnh núi, hoàng hôn đã buông lưng chừng nương rẫy mà thôi. Có lẽ bởi vậy cho nên khung cảnh khi đó mới là đẹp nhất, lãng mạn nhất trong ngày, nên đã để lại ấn tượng trong Tố Hữu một cách rõ nét và sâu sắc hơn cả.Nằm bình yên giữa núi cao và nương rẫy là những bản làng người dân tộc vùng cao. Khói bếp thổi cơm đưa lên hòa cùng với sương sớm và sương chiều buông phủ xa mờ, tạo nên một bức tranh nên thơ, lãng mạn mơ màng:

Nhớ từng bản khói cùng sương

Trong những ngồi nhà chìm khuất trong khói sương ấy là hình ảnh cô thôn nữ tảo tần: Sớm khuya bếp lửa người thương đi vềThế nhưng hai hình ảnh này được đặt trong không gian đặc trưng của Việt Bắc lại mang vẻ đẹp rất riêng, gợi ra cái thơ mộng cùng vẻ hoang dã của rừng núi. Đây cũng là thời gian hò hẹn của lứa đôi. Bóng dáng những chàng trai và những cô gái e ấp, hẹn hò đôi lứa tự bao giờ đã trở thành một phẩm chất của cảnh Việt Bắc thanh bình, là ký ức không thể quên của những cán bộ cách mạng khi về xuôi chia tay Việt Bắc. Họ ra đi mang theo dư âm của khung cảnh thi vị và mang theo cả hình ảnh bản làng chìm khuất giữa khói sương hư ảo. Việt Bắc có những vùng bạt ngàn tre nứa, mang đầy sức sống và cũng mang bóng dáng của con người nơi đây và những vẻ đẹp giản dị, mộc mạc mà ngay thẳng, kiên cường bất khuất. Tác giả nhớ về rừng tre nứa cũng là nhớ phẩm chất của con người nơi đây:Nhớ từng rừng nứa bờ treNhớ từ những bản làng, người cán bộ đưa tầm nhìn của nỗi nhớ rộng sang những rừng tre nứa, rồi những con suối, dòng sông len lỏi giữa núi rừng: Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê rơi đầyHai chữ vơi đầy không chỉ miêu tả dòng nước mà còn để chỉ sự ấm áp của nghĩa tình gắn bó giữa cán bộ Cách mạng và người dân Việt Bắc suốt mười lăm năm dài kháng chiến.

Có thể nói rằng điểm sáng của cả bài thơ toát lên từ bức tranh tứ bình tuyệt đẹp của núi rừng Việt Bắc qua giọng thơ dìu dặt, trầm bổng của Tố Hữu. Người đọc sẽ được chìm đắm trong khung cảnh hữu tình, nên thơ của rừng núi Tây Bắc. Khổ thơ được mào đầu bằng câu đối đáp nhẹ nhàng giữa ta – mình:Ta về mình có nhớ taTa về ta nhớ những hoa cùng ngườiThật khéo léo và tinh tế khi Tố Hữu truyền đạt tình cảm một cách kín đáo như thế này. Ngôn ngữ gần gũi, cách diễn tả nhẹ nhàng cũng đã khiến người đọc thấy rất thấm. Tố Hữu hỏi người nhưng thực ra là hỏi mình và câu trả lời nằm ngay trong câu hỏi. Lời mào đầu sâu sắc này sẽ dẫn người đọc lần lượt khám phá nét đặc trưng của núi rừng Việt Bắc trải dọc theo bốn mùa.Dẫn dắt người đọc cùng tham quan cảnh tiên nơi Việt Bắc, Tố Hữu đã vẽ lên một bức tranh mùa đông ấm áp, tràn đầy tin yêu:

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

Người đọc ngẩn ngơ trước mùa đông nơi vùng cao Tây Bắc với vẻ đẹp đặc trưng của nó. Phải nói rằng tuy là mùa đông nhưng qua thơ Tố Hữu, cảnh sắc không buồn, không trầm lắng, mà người lại rất sáng, rất ấm áp qua hình ảnh hoa chuối đỏ tươi. Màu đỏ của hoa chuối chính là nét điểm xuyết, là ánh sáng làm bừng lên khung cảnh rừng núi mùa đông Việt Bắc. Đây được xem là nghệ thuật chấm phá rất đắc điệu của Tố Hữu giúp người đọc thấy ấm lòng khi nhớ về Việt Bắc. Ánh nắng hiếm hoi của mùa đông hắt vào con dao mang theo bên người của người dân nơi đây bất chợt giúp người đọc thấu được đời sống sinh hoạt và lao động của họ. Màu đỏ của hoa chuối quyện với màu vàng của nắng trên đèo cảo đã tạo thành một bức trang mùa đông rạng rớ, đầy hi vọng. Bức tranh mùa xuân ở núi rừng Việt Bắc hiện lên thật trữ tinh, thơ mộng như tiên cảnh:

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Đọc hai câu thơ này, người đọc dường như mường tượng ra khung cảnh mùa xuân nơi núi rừng thật hiền hòa, dịu êm, ấm áp. Màu trắng của mơ gợi lên một bức tranh nên thơ trên cái nền dịu nhẹ của màu sắc. Hoa mơ được xem là loài hoa báo hiệu mùa xuân ở Tây bắc, cứ vào độ xuân thì, chúng ta sẽ bắt gặp trên những con đường màu sắc ấy. Mùa xuân Tây Bắc, Tố Hữu nhớ đến hình ảnh người đan nón với động tác chuốt từng sợi giang thật gần gũi. Động từ chuốt được dùng rất khéo và tinh tế khi diễn tả về hành động chuốt giang mềm mại, tỉ mỉ của người đan nón. Phải thật sâu sắc và am hiểu thì Tố Hữu mới nhận ra được điều này. Chữ chuốt như thổi hồn vào bức tranh mùa xuân ở Việt Bắc, tạo nên sự hòa hợp thiên nhiên và con người. Bức tranh mùa hè sôi động dưới ngòi bút của Tố Hữu:

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Tiếng ve kêu vàng giữa rừng phách đã làm nên cái động giữa muôn vàn cái tĩnh. Màu vàng của rừng phách là đặc trưng báo hiệu mùa hè về trên xử sở vùng cao. Tiếng ve như xé tan sự yên tĩnh của núi rừng, đánh thức sự bình yên nơi đây. Từ đổ dùng rất đắc điệu, là động từ mạnh, diễn tả sự chuyển biến quyết liệt, lôi cuốn của màu sắc. Bức trang mùa hè chợt bừng sáng, đầy sức sống với màu vàng rực của rừng phách. Ở mỗi bức trang thiên nhiên, người đọc đều thấy thấp thoáng bóng dáng con người. Có thể nói đây chính là sự tài tình của Tố Hữu khi gắn kết mối tâm giao giữa thiên nhiên và con người. Giữa rúi bao la, thấp thoáng bóng dáng cô gái hái măng tuyệt đẹp đã khiến cho thiên nhiên có sức sống hơn.Và cuối cùng chính là bức tranh mùa thu nhẹ nhàng:

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung

Mùa thu về trên Tây Bắc với hình ảnh ánh trăng dịu, mát lành. Thiên nhiên dường như rất ưu ái cho mùa thu xứ bắc với sự tròn đầy, viên mãn của ánh trăng. Không phải là ánh trăng bình thường, mà trăng nơi đây là trăng của hòa bình, ánh trăng tri kỉ rọi chiếu những năm tháng chiến tranh gian khổ. Chính ánh trăng ấy đã mang đến vẻ đẹp riêng của mùa thu Việt bắc. Tố Hữu nhìn trăng, nhớ người, nhớ tiếng hát gợi nhắc ân tình và thủy chung.Với bốn cặp thơ lục bát ngắn gọn, bốn mùa của thiên nhiên Việt Bắc được gợi tả sắc nét, tràn đầy sức sống. Tác giả thật tài tình, khéo léo, vốn hiểu biết rộng cũng như tình cảm sâu nặng đối với mảnh đất này mới có thể thổi hồn vào thơ. Bức tranh tứ bình này sẽ khiến cho người đọc thêm yêu, thêm hiểu hơn cảnh vật và con người nơi đây.

Hai đoạn thơ đều viết về một giai đoạn hào hùng của dân tộc: 1945 – 1954 giai đoạn kháng chiến chống Pháp. Cả hai tác giả đều có dụng ý xây dựng bức tranh thiên nhiên như làm bức phông nền rộng lớn cho hành trình của lao động, sinh hoạt và chiến đấu của người lính. Thiên nhiên núi rừng đều hùng vĩ rộng lớn núi cao vực sâu. Nếu ở Tây Tiến là những đèo dốc khúc khuỷu, thăm thẳm, cao, xuống thì ở Việt Bắc là những đèo cao nắng ánh là núi cao thành lũy là rừng vây bốn mặt. Khi phác họa bức tranh trữ tình bức tranh thiên nhiên được bao phủ bởi màn sương khói hư ảo mênh mang gợi nhiều kí ức hoài niệm trong nỗi nhớ chơi vơi. Thiên nhiên với hai đối cực như cân bằng cảm xúc trong tâm hồn người lính. Thiên nhiên dữ dội thử thách lòng người thiên nhiên thơ mộng trữ tình làm khơi dậy vẻ đẹp lãng mạn lạc quan giàu yêu thương của người lính.Nhưng bên cạnh chủ đề khác nhau còn được thể hiện theo hai phong cách nghệ thuật khác nhau. Một bên lãng mạn, tinh tế, một bên đậm đà tình dân tộc với khuynh hướng thơ trữ tình chính trị.

Sự khác nhau giữa hai phong cách là do Tố Hữu luôn song hành cùng các giai đoạn đấu tranh cách mạng của dân tộc, lại là một con người yêu nước gắn bó với cách mạng. Vì vậy mà thơ Tố Hữu đậm tính dân tộc và khuynh hướng thơ trữ tình chính trị. Còn Quang Dũng vốn là một nhà thơ mang ngòi bút với vẻ đẹp hào hoa, thanh lịch, lại từng trực tiếp tham gia vào đoàn binh Tây Tiến nên những kỉ niệm được khắc họa lại vô cùng chân thực. Quang Dũng đã cực tả sự hiểm trở, dữ dội của thiên nhiên với dụng ý tạo đối lập: con người chỉ anh hùng khi vượt qua những thủ thách khốc liệt. Nhà thơ không mỹ lệ hóa rừng núi, tức không mỹ hóa cuộc chiến tranh; nhà thơ nhìn thẳng vào hiện thực của mất mát, hi sinh, điều mà có thể nhiều người né tránh khi viết về chiến tranh. Thiên nhiên trong chiến tranh không phải cuộc dạo chơi. Đã có những đồng đội kiệt sức trên bước đường tiến quân:

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

Còn với Tố Hữu thiên nhiên như một người bạn đồng hành, trong sinh hoạt thì con người xuất hiện trong tư thế làm chủ thiên nhiên, hài hòa với vẻ đẹp thiên nhiên, trong chiến đấu núi rừng lại cùng chung mối thù cùng chiến đấu dưới một chiến tuyến đoàn kết dưới một góc trời:

Mênh mông bốn mặt sương mù

Đất trời ta cả chiến khu một lòng

Thiên nhiên và con người cùng chung ý chí, cùng chung tấm lòng tạo nên sức mạnh chiến đấu.Khi miêu tả bức tranh thiên nhiên sông nước thơ mộng trữ tình, Quang Dũng có dụng ý nói về vẻ đẹp tâm hồn lãng mạn hào hoa của người lính Tây Tiến trẻ trung, tràn đầy sức sống. Xuyên qua cảnh vật là một hoài niệm tinh tế mà sâu nặng, bâng khuâng một tình yêu không nói hết của người lính với một vùng đất gắn bó thiết tha trong đời lính.Khác với bài thơ Tây Tiến, đoạn trích trong Việt Bắc sử dụng ngôn từ mộc mạc, giản dị, ít mang giá trị tạo hình. Thể thơ truyền thống và cách so sánh, diễn đạt trong ca dao dân ca khiến bài thơ trở nên quen thuộc, dễ gần gũi với độc giả. Điều này cũng mang nét tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Tố Hữu, đậm đà tính dân tộc.

Trong nỗi nhớ về quá khứ, ta thấy được cả hơi ấm của tình người, tình đời mà quân dân dành cho nhau suốt mười lăm năm trường kì kháng chiến. Trên hết là sự gắn bó thủy chung không tách rời của tình quân dân và tình yêu tổ quốc. Để rồi khi trở về xuôi, người cán bộ đau đáu nỗi niềm:Mình về mình có nhớ taTa về ta nhớ những hoa cùng người.Kết bài:Thông qua nỗi nhớ của người lính và người cán bộ cách mạng về xuôi đã ghi lại khung cảnh thiên nhiên trên chặng đường hành quân gian khổ. Đó là một Tây Bắc trù phú, dữ dội nhưng cũng rất lãng mạn. Nhưng các nhà thơ không dừng lại ở cảnh. Tác giả muốn diễn đạt tâm hồn, cảm xúc của những người lính trên chiến trường đó là tình cảm lãng mạn hào hoa với những bóng dáng người trong mộng, đó là tình quân dân mặn mà ấm áp. Bởi vậy khi nhớ tới thiên nhiên người ta nhớ tới người thủy chung và gắn bó.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn so sánh thiên nhiên hiện lên trong Tây Tiến và Việt Bắc số 3

Tây Tiến (Quang Dũng) và Việt Bắc (Tố Hữu) là hai tác phẩm nổi bật của nền văn học Việt Nam thế kỉ 20. Ở hai bài thơ, vẻ đẹp thiên nhiên rừng núi được khắc họa đậm nét bằng bút pháp vừa lãng mạn, vừa hiện thực. Mỗi cảnh vật mang sắc thái riêng, hết sức độc đáo.

Quang Dũng là nhà thơ của xứ Đoài mây trắng. Thơ ông là tiếng nói của một hồn thơ hào hoa lãng mạng, nhất là những vần thơ viết về lính. Các sáng tác tiêu biểu của Quang Dũng bao gồm: Mây đầu Ô, Mùa hoa gạo, Đôi mắt người Sơn Tây… Bài thơ Tây Tiến ra đời năm 1948, trích trong tập “Mây đầu Ô” là một trong những bài thơ hay nhất của thơ ca kháng chiến chống Pháp.

Tố Hữu là nhà thơ của lý tưởng cộng sản, lá cờ đầu của thi ca cách mạng Việt Nam. Ông là người viết sử bằng thơ vì mỗi giai đoạn lịch sử đi qua, Tố Hữu đều lại một tập thơ giá trị: Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và Hoa… Bài thơ Việt Bắc ra đời vào tháng 10-1954 khi trung ương Đảng rời chiến khu Việt Bắc trở về thủ đô Hà Nội.

Đoạn thơ trong bài thơ Tây Tiến là hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ dữ dội, thơ mộng trữ tình. Thiên nhiên hùng vĩ dữ dội ở con đường hành quân nhiều gian khổ. Nhiều từ láy được huy động để diễn tả sự hiểm nguy: Khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút. Phép nhân hóa “sung ngửi trời” diễn tả tinh tế độ cao. Phép tương phản đối lập diễn tả cảnh đèo cao, dốc thẳm, rừng dày “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”.

Thiên nhiên trữ tình, thơ mộng “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Câu thơ được dệt nên bởi những thanh bằng gợi cảm giác êm ả, tươi mới. Hình ảnh thơ gợi vẻ đẹp nên thơ. Nghệ thuật: thể thơ thất ngôn cân đối hài hòa giữa các thanh bằng trắc; phép nhân hóa, tương phản, cách sử dụng từ láy tượng hình…

Đoạn thơ trong bài Việt Bắc: Thiên nhiên gắn bó hài hòa với con người cùng chung mất mát đau thương, cùng chung lưng đấu cật chống kẻ thù chung “Nhớ khi giặc đến giặc lùng/Rừng cây núi đá ta cùng đánh tây”. Con người và thiên nhiên tạo thành một thế trận trùng điệp dồn kẻ thù vào “lũy sắt dày”, vào “mênh mông bốn mặt sương mù”. Thiên nhiên là hậu phương vững chắc và cũng là người bạn chiến đấu của con người. Nghệ thuật: Thể thơ lục bát truyền thống, phép tu từ nhân hóa, hình ảnh thơ ngôn ngữ thơ giàu tính tạo hình.

Giống nhau: đều là những bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, tươi đẹp của núi rừng trong thời kỳ chống Pháp. Đều được viết bằng bút pháp lãng mạn cách mạng. Khác nhau: Thiên nhiên trong Tây Tiến thiên về diễn tả sự khắc nghiệt, dữ dội. Là gian khổ thiếu thốn mà người lính phải vượt qua. Thiên nhiên trong Việt Bắc thiên về miêu tả sự gần gũi và đồng lòng với con người.

Thiên nhiên trong Tây Tiến mang hai vẻ đẹp hài hòa: hùng vĩ và lãng mạn. Thể thơ thất ngôn cũng góp phần làm cho bức tranh thơ thể hiện được những nét trên. Trong Việt Bắc, thiên nhiên có chiều hướng gắn với hiện thực cuộc kháng chiến khi ta dựa thế rừng núi để đáp trả lại kẻ thù. Thể thơ lục bát biến hóa linh hoạt mang lại một thiên nhiên hùng vĩ nhưng cũng thật gần gũi.

Càng đọc, ta càng thêm yêu thiên nhiên, đất nước, con người Việt Nam.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn so sánh thiên nhiên hiện lên trong Tây Tiến và Việt Bắc số 4

Thơ Quang Dũng vừa có hơi hướng cổ điển vừa mới mẻ hiện đại . Ông có một hồn thơ tài hoa ,tinh tế đa cảm . “Tây tiến” là bài thơ đặc sắc của Quang Dũng .Bài thơ thể hiện nỗi nhơ thương da diết cháy bỏng về đồng đội Tây Tiến hào hoa kiêu dũng chiến đấu giữa miền tây hùng vĩ lệ.Bài thơ thành công một phần là là nhờ cách xây dựng hình tượng núi rừng Tây bắc hùng vĩ diễm lệ. Những bài thơ lớn của Tố Hữu đều sáng tác vào những điểm mốc của lịch sử cách mạng Việt Nam. Bài thơ “Việt Bắc” – kiệt tác của Tố Hữu cũng được sáng tác trong một thời điểm trọng đại của đất nước. Cả hai bài đều làm nổi bật lên vẻ đẹp Tây Bắc nước ta.

Đối với bài thơ Tây Tiến, bài được sáng tác trong cảm hứng nhớ một thời chiến đấu oanh liệt của đoàn quân TT đầu thời kì chống pháp ở vùng biên giới Việt lào .Bài thơ dựng lên bức tranh núi rừng Tây bắc trong niềm hoài niệm thiết tha. Hình ảnh đèo dốc “khúc khuỷu “. “thăm thẳm” được hiện lên đầy hiểm trở gập ghềnh nhờ cách sử dụng từ láy tượng hình. Câu thơ “dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm ‘dày đặc thanh trắc càng nhấn mạnh sự hùng vĩ hiểm nguy của cảnh núi rừng. Hai chữ “dốc” mở hai nhịp thơ:

Dốc lên khúc khuỷu /dốc thăm thẳm

Hình ảnh “cồn mây” cũng góp phần cực tả dộ cao của đèo dốc, tô đậm cái hùng vĩ của cảnh núi rừng, độ cao ấy đc hình dung cụ thể hơn qua hình ảnh “súng ngửi trời”. Một độ cao chỉ thấy cái hiểm nguy nghẹt thở đe dọa cuộc sống con người nhưng lại được nhà thơ nói theo kiểu nhẹ tênh pha chút ngang tàng kiểu lính

.

Câu thơ “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống “nhịp gấp khúc tả con đường hành quân khắc nghiệt ,dữ dội .Câu thơ như đc bẻ gập đôi cực tả hai bên lên xuống của đèo dốc “khiến độc giả như đang được thử nghiệm một trò chơi bập bênh đến chóng mặt”(phan huy dũng) Cảnh núi rừng miền tây không chỉ hùng vĩ ,dữ dội mà còn đầy bí hiểm.

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường hịch cọp trêu người

Thủ pháp cường điệu tô đậm vẻ đẹp hoang dại, dữ dội bí hiểm: thác dữ gầm gào, hổ dữ rình rập đe dọa. Khung cảnh núi rừng miền tây hiện lên đầy vẻ anh linh, bí hiểm. Cả thiên nhiên miền Tây Bắc bóng chiều và đêm tối như đồng lõa với tác dữ và cọp dữ để uy hiếp con người Thiên thiên miền tây trong thơ Quang Dung, trong Tây tiến không chỉ được vẽ bằng những nết khoẻ, gân guốc và đi cùng với nó là những nét vẽ mềm mại nên thơ. Bút pháp lãng mạn khắc họa cho người đọc một Tây bắc thơ mộng mỹ lệ.

Còn trong bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu, Để cho Việt Bắc – người ở lại – mở lời trước là rất tế nhị, vì trong chia tay thì người ở lại thường không yên lòng đối với người ra đi:

“Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”

Câu thơ mở đầu “Mình về mình có nhớ ta” là giai điệu chính thứ nhất. Mình và Ta đã từng chịu chung gian khổ “miếng cơm chấm muối”, đã cùng chung lưng đấu cật để chống kẻ thù chung “mối thù nặng vai”. Biện pháp tu từ nhân hoá “rừng núi nhớ ai” nói lên tình cảm thắm thiết của Việt Bắc với những người kháng chiến. Việt Bắc nhắn nhủ với người về là chẳng những “nhớ ta” mà còn phải “nhớ mình’, nói theo ngôn từ của tình yêu thì chẳng những phải “nhớ em” mà còn phải “nhớ anh” nữa. Đó là câu thơ hay nhất của bài thơ “Việt Bắc” mà cũng là một sáng tạo tuyệt vời của Tố Hữu!

Hai đại từ Ta – Mình cứ xoắn xuýt, quấn quýt “Ta với mình, mình với ta” thật là nồng nàn. Ý nghĩa lại không rạch ròi để rồi nhập lại làm một: “Mình đi, mình lại nhớ mình” (Trả lời cho câu hỏi: “Mình về mình có nhớ ta”) Diễn ra ngôn ngữ của tình yêu là “Anh đi anh lại nhớ em”. Để xua tan những hoài nghi của người ở lại, người về phải nói những lời thật nồng thắm, phải so sánh với những tình cảm cao quý nhất của con người:

“Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”

Từ “nhớ” được điệp lại trùng trùng và mỗi từ lại gợi lên không biết bao nhiêu kỉ niệm thân thương giữa Ta với Mình.

“Thương nhau, chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”

Con người Việt Bắc trong lòng người về mới đáng yêu đáng quý làm sao:

“Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô.”

Và chủ đề chung thủy – chung thủy với cách mạng của bài thơ “Việt Bắc” đã đạt đến độ sâu sắc ngay trong phần một này. Tiếng nói yêu thương – nét nổi bật trong phong cách thơ Tố Hữu – không có bài nào thấm thía hơn “Việt Bắc”.

Nhìn chung, khi so sánh cảnh thiên nhiên Tây tiến và Việt Bắc mỗi bài thơ đều thể hiện một vể đẹp riêng của thiên nhiên dưới góc nhìn của mỗi tác giả. Nhưng cả hai đều thể hiện tình yêu thiên nhiên của hai nhà thơ nổi tiếng.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn so sánh thiên nhiên hiện lên trong Tây Tiến và Việt Bắc số 5

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

(Tây Tiến – Quang Dũng)

“Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

Núi giăng thành luỹ sắt dày

Rừng che bộ đội rừng vây quân thù”

(Việt Bắc – Tố Hữu)

Quang Dũng và Tố Hữu đều là những nhà thơ viết về cách mạng xuất sắc và tiêu biểu trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp đầy gian khổ. Chất thơ của Quang Dũng khi viết về người lính chiến thì luôn mang một vẻ hào hoa, lãng mạn cũng không kém phần hào hùng, bi tráng như một bản anh hùng ca. Còn Tố Hữu, cách viết của ông luôn thay đổi cho phù hợp với từng thời kỳ cách mạng, với Việt Bắc giọng thơ của ông mang màu sắc ấm áp, thấm đẫm ân tình thủy chung. Trong hai bài thơ Tây Tiến và Việt Bắc đều có những dòng thơ rất hay viết về phong cảnh thiên nhiên núi rừng Tây Bắc, vừa có chút tương đồng, lại cũng mang những màu sắc rất riêng biệt, tiêu biểu là ở hai khổ thơ trên.

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Đoạn thơ trên được trích từ phần kế đầu của tác phẩm Tây Tiến, trong một chuyến hành quân qua Phù Lưu Chanh năm 1948. Trước cảnh núi rừng hùng vĩ ấy, Quang Dũng đã có những nỗi nhớ da diết hướng về miền rừng núi Tây Bắc thân thương, ở nơi ấy có sông Mã cuồn cuộn, có Sài Khao mờ hơi sương, có Mường Lát hoa ngập lối. Nay đã hành quân đi xa, trước sự hiểm trở khôn cùng của rừng núi, trước nỗi mệt mỏi cả chặng đường dài nỗi nhớ càng thêm đậm sâu, ý thức về khung cảnh thiên nhiên nơi Phù Lưu Chanh lại càng thêm rõ ràng.

Chỉ với 4 câu thơ ngắn ngủi nhưng nỗi hiểm trở của núi rừng đã được bộc lộ một cách tinh tế. “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm”, nghệ thuật lặp cấu trúc “Dốc…dốc…” kết hợp với hệ thống từ láy “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, khiến độc giả dễ dàng mường tượng ra những đặc điểm địa hình đặc biệt, đó là quãng đường gập ghềnh, lên xuống liên tục, có những quãng dốc đứng, khiến người lính chiến hành quân xa phải chịu nhiều vất vả, đôi lúc chỉ một phút lơ là, hay ngủ gật họ có thể bỏ mạng vì rơi xuống vực bất cứ lúc nào. Hơn thế nữa, đây lại là nơi “heo hút”, với những chòm mây, chòm sương trắng lượn lờ thưa thớt, lạnh lẽo, lại hết sức im ắng khiến lòng người dễ sinh cảm giác cô đơn, nhớ thương.

Hình ảnh “súng ngửi trời” là một hình ảnh rất độc đáo, là sự sáng tạo không giới hạn của Quang Dũng trong việc miêu tả độ cao, nơi đây có chỗ sâu thăm thẳm, nhưng có chỗ lại cao chót vót, tưởng như mũi khẩu súng trên vai người lính chiến có thể chạm đến cả trời xanh kia. Điều ấy thể hiện tâm hồn vui tươi, đầy hồn nhiên của người lính chiến, dẫu trước mặt là sự nguy hiểm vạn phần nhưng họ vẫn có thể tếu táo, khiến khó khăn dường như được vơi bớt. Sự hiểm trở của địa hình còn thể hiện ở “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”, dễ dàng khiến ta liên tưởng đến những con dốc dựng đứng hết lên rồi lại xuống, liên tiếp nhau không có điểm dừng, khiến người lính phải đổ biết bao giọt mồ hôi, chân mỏi, tay run, hàm răng nghiến chặt đi cho hết chặng đường hành quân.

Sự hiểm trở của chốn rừng sâu nước độc càng nhấn mạnh thêm nỗi gian lao, vất vả của bộ đội ta trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, thế nhưng với tinh tinh thần thép, lòng yêu nước kiên cường, quân đội ta vẫn vượt qua tất cả, viết lên một bản trường ca bất tận. Tuy có nhiều gập ghềnh, địa hình ghê gớm, dữ dội đến đâu thì quang cảnh núi rừng của miền Tây Bắc vẫn hiện ra những nét đẹp hiền hòa và thơ mộng, trong đôi mắt trong trẻo kiên cường, nhuốm mệt mỏi của Quang Dũng, ông vẫn thấy xa xa là sự sống của con người “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”, thật yên bình, thật dịu dàng dưới màn mưa trắng xóa, đó là thứ mà người lính chiến vẫn hướng về, vẫn ngày đêm bảo vệ.

Trong tác phẩm Việt Bắc có rất nhiều đoạn miêu tả cảnh thiên nhiên Tây Bắc, cảnh nào cũng đẹp, cũng đầy màu sắc và thẫm đẫm ân tình thủy chung và khổ thơ sau là khổ thể hiện sự gắn bó sâu sắc của núi rừng Tây Bắc với bộ đội ta trong những ngày kháng chiến gian khổ, là nỗi nhớ của người về miền xuôi với người còn ở lại thật sâu nặng.

“Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

Núi giăng thành luỹ sắt dày

Rừng che bộ đội rừng vây quân thù”

Dường như ở khổ thơ này Tố Hữu không thiên về miêu tả mà là tự sự, cảnh thiên nhiên hiện ra thông qua những trận đối chiến với quân thù. Dòng hồi hồi tưởng đưa Tố Hữu nhớ về những ngày giặc tiến hành càn quét, lùng sục, thì “Rừng cây núi đá” vẫn thường im ắng cũng trở thành đồng chí cùng hiệp lực “đánh tây”. “Núi giăng thành lũy sắt dày” trở thành thứ khiến quân địch phải khiếp sợ, e dè, trở thành lớp giáp sắt vây khốn quân thù, bởi chỉ có quân dân ta mới hiểu rõ rừng núi của ta, còn lũ cướp nước thì phải chịu bó tay, phải mất hết phương hướng trong muôn trùng núi cao. Núi đã vây khốn quân thù, thì rừng cũng lại vừa che chở cho bộ đội, rừng cũng tiếp tục vây quân thù thêm nữa. Màu áo xanh của quân ta hòa lẫn với màu lá xanh thẳm của những tán cây rừng rậm rạp, trở thành lớp ngụy trang xuất sắc nhất, khiến quân thù phải khiếp sợ khi thấy những cây chuối di động, thấy những lùm cây xanh cứ dần tiến về phía mình, thấy bè lũ của mình từng tên bị những “cái cây” thần kỳ hạ gục.

Đó phải là nỗi kinh hoàng đến mức nào. Trong cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ của nhân dân ta, núi rừng luôn đóng vai trò quan trọng góp phần làm nên những chiến thắng vang dội trong lịch sử, khiến quân thù phải dè chừng. Thiên nhiên Tây Bắc chính là người bạn tốt nhất của quân dân ta, che cho bộ đội ta vượt qua những chuyến tầm soát ác liệt của giặc vừa là lớp ngụy trang hoàn hảo nhất. Đồng thời lòng yêu nước, lòng dũng cảm của quân dân ta chính là yếu tố quyết định sự thắng, những kiên cường, gắn bó, bám núi rừng đã trở thành kỷ niệm không thể nào quên trong lòng người ra đi. Tố Hữu đã nhắc lại với một giọng thơ đầy tự hào, yêu thương và ấm áp nghĩa tình.

Điểm chung của hai đoạn thơ là đều nói về núi rừng Tây Bắc, nói về nỗi nhớ của người ra đi mà lòng vẫn vương vấn cảnh sắc thiên nhiên nơi đây, đó là tấm lòng trân trọng, gắn bó trong suốt những năm tháng kháng chiến đầy gian khổ. Cả hai bức tranh thiên nhiên đều bộc lộ được những nét hung hiểm, dữ dội của thiên nhiên nơi đây, một cách tinh tế. Tuy nhiên trong Tây Tiến, phong cảnh thiên nhiên Tây Bắc được tả một cách rất chân thực, nhiều những từ ngữ phóng đại, lối liên tưởng độc đáo thú vị, bằng một hồn thơ rất lãng mạn, hào hoa của Quang Dũng, khiến phong cảnh thiên nhiên và hình ảnh người lính như mang chất nhạc trong một bản trường ca anh hùng. Còn với Việt Bắc, Tố Hữu lại nghiêng về cảm xúc nhớ nhung, niềm tự hào, giọng thơ nồng nàn, ấm áp nghĩa tình, thiên nhiên hiện ra dữ dội chỉ đối với kẻ thù, còn với quân dân ta thì nó lại trở nên thân thuộc, yêu thương, bảo bọc cho quân đội ta trong kháng chiến.

Những điểm khác biệt trong phong cách sáng tác đã đánh dấu hai hồn thơ rất riêng biệt của nền thơ ca Việt Nam hiện đại, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn học Việt Nam. Nhưng chung quy lại, thì cả Quang Dũng và Tố Hữu đều có chung một lòng yêu nước nồng nàn, một nỗi nhớ nhưng sâu sắc về núi rừng Tây Bắc thiêng liêng, chỉ là cách biểu đạt có khác nhau mà thôi.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn so sánh thiên nhiên hiện lên trong Tây Tiến và Việt Bắc số 6

Quang Dũng (1921-1988) là nghệ sĩ đa tài, có hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa, đặc biệt khi ông viết về những người lính Tây Tiến và xứ Đoài quê mình. Tây Tiến là bài thơ xuất sắc nhất, tiêu biểu cho đời thơ, phong cách sáng tác của ông. Bài thơ bằng bút pháp lãng mạn, sự sáng tạo về hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu đã bộc lộ một nỗi nhớ sâu sắc da diết của tác giả về những người lính Tây Tiến anh dũng hào hoa và núi rừng miền Tây hùng vĩ, Mỹ lệ.

Đường thơ, đường cách mạng của Tố Hữu gắn liền với các chặng đường của cách mạng Việt Nam. Bài thơ Việt Bắc được Tố Hữu sáng tác trong bối cảnh chia tay với Việt Bắc đầy lưu luyến. Cảnh và người Việt Bắc đã để lại nỗi nhớ không thể nào quên trong tâm hồn người cán bộ về xuôi. Không nỗi nhớ nào về thiên nhiên Việt Bắc lại thiếu hình ảnh về người Việt Bắc và không một nỗi nhớ nào về con người Việt Bắc lại theiéu nỗi nhớ về vẻ đẹp của núi rừng Việt Bắc. Bởi lẽ đơn giản con người Việt Bắc gắn bó với thiên nhiên, đến lượt mình người chiến sĩ cách mạng sống chan hòa với người Việt Bắc được che chở giữa đại ngàn núi rừng.

Với Tố Hữu rừng núi Tây Bắc là nơi chôn bao lớp xác quân thù và cũng là người bạn đồng hành, chở che cho những anh lính trên đoạn đường hành quân đầy gian khổ:

Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

Núi giăng thành lũy sắt dày

Rừng che bộ đội rừng vây quân thù

(Việt Bắc – Tố Hữu)

Trong những ngày đầu kháng chiến gian khổ của giai đoạn cầm cự, phòng ngự, bộ đội phải dựa vào dân, dựa vào núi rừng Việt Bắc hiểm trở để đánh địch. Trước giờ khắc quyết định của lịch sử, không chỉ nhân dân mà cả núi rừng cùng đều vùng lên, chung sức đánh Tây. Với cuộc kháng chiến đầy gian lao của quân và dân Việt Bắc, núi rừng cũng trở nên có chí, có tình người, đã trở thành những người bạn, những người đồng đội, những chiến sĩ anh hùng của toàn quân.

Chỉ với bốn câu thơ, chữ rừng và núi được lặp đi lặp lại đến năm lần, nó rải kín câu thơ, rải kín đất Việt Bắc tạo lên thế hiểm của trường thành của lũy thép vây bọc quân thù. Nhớ về lúc kháng chiến, khi giặc đánh giặc lùng, cũng là khi quân ta đang khó khăn xoay sở tình thế, ta biết địch mạnh hơn ta rất nhiều, nhưng trên trận địa quen thuộc nói là thua địch cũng không phải là dễ. Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây, bằng phép nhân hóa, rừng bạt ngàn cây, với núi bao la đá để rồi trên dưới một lòng cùng con người đánh đuổi quân xâm lược. Đồng thời thể hiện tình cảm giữa con người kháng chiến và thiên nhiên núi rừng Việt Bắc rất tha thiết, bao la.

Ở cặp lục bát thứ hai ta sẽ thấy rõ hơn công việc của thiên nhiên núi rừng Việt Bắc. Núi thì giăng thành lũy, rừng thì đảm nhận hai công việc. Như một người mẹ che chở cho con mình, rừng bao bọc cho bộ đội trước mặt kẻ thù cướp nước. Rừng trở nên kiên quyết đến dữ dằn cùng với việc vây quân thù để tiêu diệt, cái trùng trùng điệp điệp của rừng, cái khí thế hiên ngang kiêu hùng của những vách núi đã làm cho biết bao kẻ thù khiếp sợ và bất lực. Quả thật Việt Bắc đã trở thành địa linh nhân kiệt kể từ đó. Qua đó càng làm sáng tỏ thêm nhận định: Việt Bắc là cái nôi của cách mạng dân tộc ta.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Back to top button
You cannot copy content of this page